쿐놡 > က ꗬÁ쁟Љ ደ¿ က ࠀ 뫬 橢橢䔬䔬 Љ ⽎ ⽎ 䜎 + · ᕖ ᕖ ᕖ ᕖ ᕖ ᕪ ᕪ ᕪ 8 ᖢ Ą ᚦ , ᕪ ✈ ƪ ᛒ ᛒ ᛨ ᛨ ᛨ ៃ ៃ ៃ ♻ ♽ ♽ ♽ ♽ ♽ ♽ $ ⢲ ʲ ⭤ D ⚡ ! ᕖ ៃ ៃ ⚡ ᕖ ᕖ ᛨ ᛨ Û ⛂ ₆ ₆ ₆ Ȉ ᕖ ᛨ ᕖ ᛨ ♻ ₆ ♻ ₆ ₆ ⌝ ⍩ ᛨ 톰䚱杺Ǚ ᬄ Ŏ ⌵ ♧ ⛘ 0 ✈ ⌽ , ⮨ ᱒ Ț ⮨ ⍩ ⍩ n ⮨ ᕖ ⏗ ʐ ៃ > ᠁ , ₆ ᠭ $ ᡑ « ៃ ៃ ៃ ⚡ ⚡ Ṭ Ț ៃ ៃ ៃ ✈ ⮨ ៃ ៃ ៃ ៃ ៃ ៃ ៃ ៃ ៃ ఠ ᐜ ĺ Ē Љ đình Kim Ngân – 42 Hàng Bạc
Mục tiêu: Giới thiệu về nghề truyền thống, cụ thể giá trị nghề Bạc. Giới thiệu về đình thờ Tổ nghề. Thành công trong công tác bảo tồn và trùng tu di tích, sự thành công trong công tác giãn dân phố cổ.
Phần 1: Phần đầu và Giới thiệu về phố Hàng Bạc
phố cổ Hà Nội có vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của Thủ đô Hà Nội bởi nó chứa đựng một hệ thống giá trị lịch sử truyền thống, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, kinh tế, xã hội to lớn.
Phố Hàng Bạc đã được hình thành từ thế kỷ 18. Đời Hậu Lê chỗ này là đất thuộc giáp Nỗ Hạ phường Đông Các, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương; đến nửa đầu thế kỷ 19 là đất các thôn Đông Thọ và Dũng Hãn; sang giữa thế kỷ 19 thì hai thôn sát nhập với nhau làm một gọi thôn Dũng Thọ, thuộc tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.
Phố Hàng Bạc dài khoảng 280m, bắt đầu từ phố Hàng Mắm đến ngã tư tiếp giáp với Hàng Đào (Phố Hàng Đào trước kia là phố chuyên nghề nhuộm chuội và bán tơ lụa), Hàng Ngang (nơi sinh sống và buôn bán của các Hoa kiều gốc Quảng Đông) và phố Hàng Bồ (nơi tập trung buôn bán các thứ bồ đan bằng tre, nứa).
Khu phố này có kiến trúc đặc sắc là nhà hình ống và nhà chồng diêm. Nhà hình ống với bề dài, bề rộng có hạn, cha ông ta đã sáng tạo nên không gian ở, thờ phụng, nghỉ ngơi, sản xuất và buôn bán hết sức hợp lý và khoa học, vẫn có cả khoảng không để đưa thiên nhiên vào trong nhà. Nhìn sang phía bên đường tại ngôi nhà số 27, đây là ví dụ của nhà chồng diêm, là loại nhà hai tầng không hoàn toàn với gác xép có cửa giả hoặc cửa cỡ nhỏ, hoặc cửa tròn mở ra phố. Loại nhà này ngoài mái ngói nghiêng xuống mặt phố còn có mái tranh vẩy thêm ra hè. Kiến trúc trang trí đơn giản, hai đầu hồi xây vài ba bậc giật cấp, có đường chỉ hay đường triện đơn giản.
Khu phố cổ Hà Nội hay còn gọi là khu “36 phố phường”, từ 61 phường thời Lý – Trần, rồi chuyển thành 36 phường thời Lê (thế kỷ XV) vẫn luôn là nơi tập trung buôn bán và hoạt động sản xuất nghề của các phường hội nghề. Điều này được thể hiện qua các tên phố, mỗi tên phố, gắn liền với một loại hàng hóa – sản phẩm buôn bán, sản xuất đặc trưng của làng nghề - phường nghề tại phố đó. Ví dụ như phố Hàng Bạc, chuyên về nghề kim hoàn.
Ngoài nghề kim hoàn, khu phố còn có nghề đúc bạc nén và đổi tiền rất phát triển. Về sau, việc đúc bạc nén được triều đình nhà Nguyễn giao cho trường đúc ở Huế; Hàng Bạc vẫn giữ nghề đổi bạc. Đến khi người Pháp chiếm Hà Nội, theo nghề nghiệp từng phường, đã gọi phố này là Phố những người đổi bạc (Rue des Changeurs), nghề làm vàng bạc ở Hà Nội lúc này không tập trung riêng ở Hàng Bạc mà còn ở mấy phố lớn khác như Hàng Bồ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Trống; Tràng Tiền cũng có những hiệu lớn của người nước ngoài Hoa kiều hoặc Pháp; nhưng khách hàng Việt Nam thường chỉ quen với những cửa hàng ở đây. Sau ngày hòa bình lập lại, tên phố đổi lại là phố Hàng Bạc và giữ nguyên cho đến hiện nay.
Phần 2: Giới thiệu về nghề đúc bạc và kim hoàn
Nghề kim hoàn tại phố Hàng Bạc hoạt động quanh năm, nhộn nhịp nhất vào mấy tháng cuối năm, là thời kỳ có nhiều đám cưới xin cần sắm tư trang cho cô dâu.
Người ta phân nghề kim hoàn thành ba khâu kỹ thuật khác nhau: nghề “chạm” (chạm trổ hàng vàng bạc), nghề “đậu” (kéo vàng bạc thành sợi nhỏ để trang trí) và nghề “trơn” (chế tác đồ vàng bạc không chạm trổ). Đối tượng phục vụ của các thợ kim hoàn chủ yếu là các tầng lớp quan lại và một số thị dân giàu có sinh sống trong các phố phường Thăng Long – Hà Nội.
Phố Hàng Bạc tuy không dài nhưng nếu xét về nguồn gốc dân sinh sống tại đây, có thể thấy phố này gần như có sự phân ra làm hai khu:
Đoạn cuối phố ở phía tây, từ ngã tư Tạ Hiền - Đinh Liệt đến ngã tư Hàng Đào - Hàng Bồ là nơi tập trung của người làng Định Công di cư ra Thăng Long, làm nghề vàng bạc. Họ nhận đặt làm những đồ nữ trang như khuyên vàng, xà tích bạc, vòng xuyến, hoa, hột bằng vàng, hoặc khánh và vòng bạc cho trẻ con. Bên cạnh đó, còn có người làng Đồng Sâm (huyện Kiến Xương - Thái Bình). Nếu người Định Công thạo các hàng “đậu”, hàng “trơn”, thì người Đồng Sâm chuyên về hàng “chạm”, tức là chạm trổ những đồ dùng bằng bạc, như lư, đỉnh, hộp trầu, khay, chén, bát bạc, đĩa bạc...
Đoạn phố từ ngã ba Mã Mây đến ngã tư Tạ Hiện-Đinh Liệt đa phần là người dân Châu Khê làm nghề đúc bạc nén, đổi tiền và một số hộ dân bản địa. Người làng Châu Khê tới Thăng Long đầu tiên trong 3 vùng Châu Khê, Định Công, và Đồng Sâm.
Người Châu Khê làm nghề kim hoàn, đúc bạc và kiêm cả nghề đổi tiền. Thời vua Lê Thành Tông (thế kỷ 16), quan thượng thư Lưu Xuân Tín, vốn là người làng Châu Khê, được nhà vua cho phép mở lò đúc bạc thành nén cho triều đình; ông đã đem người trong họ hàng và nguời làng ra Thăng Long mở phường đúc bạc. Người Châu Khê nhận nguyên vật liệu của đại diện Nhà nước phong kiến, tức là các ty quan, mang bạc về đúc thành từng đĩnh hay nén 10 lạng, gọi là chuyên bạc, có in dấu thị thực vào đó, làm những đơn vị tiền tệ trong những công việc giao dịch lớn.
Cửa hàng kim hoàn của người Châu Khê, cũng như người Định Công, hay Đồng Sâm đều có cách bố trí, sắp đặt tương đối giống nhau: thường hẹp bề ngang, ngoài kê chiếc tủ kính nhỏ treo mấy cái vòng khánh bạc, bộ xà tích, ống vôi nhỏ, chuôi dao nạm bạc, gần cửa ra vào, trên chiếc sập là người ngồi bán hàng và thử vàng, hầu hết là phụ nữ; trước mặt có chiếc lò, chiếc bễ nhỏ tí xíu, chiếc cân tiểu ly, đó là những đồ lề để thử vàng và cân vàng. Bên trong còn có một tủ kính để bày một số hàng làm sẵn. Những thứ quý được cất ở nhà trong, có khách hỏi mua mới mang ra.
Đối với bất cứ nghề thủ công nào, người thợ cũng cần có đôi tay tài hoa, khéo léo, óc sáng tạo và tính chịu thương chịu khó. Nhưng riêng nghề kim hoàn còn đòi hỏi người thợ phải sống có đức, phải giữ chữ tín với mọi người. Vởi vàng bạc vốn là thứ kim loại quý, không phải ai cũng có. Trong cuộc sống, người Việt Nam, nhất là thời xưa, ngoài quan niệm vàng bạc là vật trang sức, đó còn là vật phòng thân những lúc cơ nhỡ hoặc có việc cần thiết, cho nên người thợ không thể tráo trác trong nghề hay mua bán trao tay, mà phải chịu trách nhiệm mãi với những sản phẩm mình làm ra. Vì thế, trước kia, ở Định Công, muốn học nghề thường phải trải qua thời gian khá dài, khoảng từ 7-8 năm. Người Châu Khê, nếu phát hiện ai làm hàng giả thì người đó phải chịu hình phạt của làng, của dòng họ, nhẹ là phạt tiền, mà nặng thì nọc ra đánh trước sân đình thờ tổ nghề, thậm chí khai trừ khỏi làng nghề.
Phần 3: Giới thiệu thông tin chung về Đình Kim Ngân và kiến trúc nghi môn
Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội từ lâu đã là nơi “bốn phương hội tụ”, thường xuyên tiếp nhận những thành phần cư dân mới từ các nơi khác. Đó là những thợ thuyền bách nghệ được thu hút về kinh đô, nơi có điều kiện hành nghề thuận lợi.
Khi dời làng quê lên Thăng Long, họ thường ít khi đi một mình mà thường kéo cả họ, cả giáp ra, đồng thời đưa mô hình tổ chức cộng đồng làng xã vào việc xây dựng các phường nghề. Phường cũng có đình, cũng có thờ vị thành hoàng làng, và cũng có sinh hoạt cộng đồng với các tục lệ, các kỵ kèm, các lễ hội dân gian như ở làng quê.
Ở Thăng Long, tín ngưỡng thờ tổ nghề khá đậm nét. Có lẽ không có đô thị nào ở Việt Nam nhiều đình đền thờ tổ nghề như ở đây. Các cụ ta thường nói: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, xưa đã vậy và nay cũng vậy. Trau dồi tay nghề, phát triển, sáng tạo thêm cho hàng hóa thêm khéo, thêm tinh xảo là nguyện ước của mọi người thợ thủ công. Truyền thống đạo lý lâu đời của người Việt Nam là “uống nước, nhớ nguồn”. Các ngành thợ thủ công ở Thăng Long đều rước các vị Tổ nghề ở quê hương ra kinh đô để thờ vọng, để tri ân các bậc tổ sư. Tín ngưỡng thờ tổ nghề là một biểu hiện của tín ngưỡng thờ tổ tiên, từ lòng biết ơn những vị đã tạo dựng cho mình cuộc sống. Trong tín ngưỡng dân gian, người Việt cũng như người thợ thủ công còn tin rằng các vị tổ nghề, thần linh và người thợ thủ công có mối liên hệ vô hình và thường phù hộ, độ trì cho mình trong những vui buồn trên con đường phát triển nghề nghiệp.
Đình Kim Ngân được dân làng Châu Khê (Hải Hưng) xây dựng nên sau khi đến tụ cư tại phố Hàng Bạc để thờ thần Hiên Viên – là Ông “Tổ Bách Nghệ”.
Di tích đình Kim Ngân được khời dựng từ năm nào, hiện nay chưa rõ. Nhưng theo tư liệu vấn kế được lập năm Minh Mệnh 6 (1825), hiện còn lưu giữ ở di tích, thì vào năm Gia Long 15 (1816) dân làng Châu Khê – Hải Hưng) đã mua đất để mở rộng đình. Dựa theo nguồn tư liệu này, có thể đi đến nhận định ban đầu: di tích đình Kim Ngân rất có thể được xây dựng từ thời hậu Lê hay ít nhất cũng là thời gian mở đầu của triều Nguyễn.
Theo các tài liệu bia cổ của di tích còn ghi lại, trước đây Di tích đình Kim Ngân đã trải qua 5 lần trùng tu, sửa chữa từ năm 1877 năm Tự Đức thứ 30 đến năm 1923, tức năm Khải Định thứ 8.
Lần thứ nhất đình được sửa chữa vào tháng 8 năm Tự Đức thứ 30 (1877)
Lần thứ hai trong tấm bia đề ngày 27 tháng 5 năm Thành Thái thứ 4 (1892)
Lần thứ ba đình được sửa chữa và ghi vào tấm bia đá đề ngày
Lần thứ tư đình được sửa và ghi vào tấm bia đá năm Duy Tân thứ 2 (1908)
Lần thứ năm, năm Quý Hợi, Khải Định thứ 8 (1923)
Di tích đình Kim Ngân có diện tích 575m2, là công trình kiến trúc cổ, có quy mô khá lớn so với hệ thống các công trình kiến trúc dạng đình trong khu phố cổ Hà Nội. Cá ࠀ ࠸ ࡊ ৌ ਪ ਬ ઘ 뫝箙㡘 ᕄ罨ꉼᘀ罨ꉼ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ㱨ᘀ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘻ驨脃䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ퍨nᘀ퍨n䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕄ퍨nᘀ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ퍨nᘀ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈܄ࠀ ࠸ ৌ ਬ ர ๘ Ⴒ ᗂ ᤠ Ẉ Ủ ‚ ⋢ ð Ý 츀 ¿ 뼀 ° ꄀ 뀀 Î 茀 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧㝃o ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧崞 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧凛¾ ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧/ ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧Ᏽë ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧儼ãሀ ␃ᄃ킄ሂ灤þጀ碤᐀¤怀킄愂̤摧滓 ␃ሁ灤þጀ碤᐀¤愀Ĥ摧滓 ഀઘ ம ๘ ຈ ຒ ດ Ⴐ ዞ 뷠붚뵺뵺㝚㝚 ᕄ빑ᘀ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ罨ꉼ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ罨ꉼᘀ罨ꉼ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ恨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ఄዞ ዠ ፶ ፸ ᗀ ᗂ ᛂ ᛄ ០ 샠삝窝㡗W ᔼṨ᭝ᘀṨ᭝䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡮Ъ쩱
琀⩈ᕄṨ᭝ᘀṨ᭝䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ罨ꉼᘀ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ빑ᘀ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ䥨먀䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ऄ០ ៸ ᤠ ᤢ ᥆ ᥊ ᥘ ᥢ ᦠ ᧀ ᧐ 뷠綝鵝㵽ᵽ ᘾ⼚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ恨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ빑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ䍨漷䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾቨ⥚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄṨ᭝ᘀṨ᭝䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾṨ᭝䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈᧐ ᨔ ᷈ ᷎ Ẇ Ẉ Ẩ Ụ Ủ 뷝鷝뷝婺: ᘾ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ䥨먀㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ㱨ᘀ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾቨ⥚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ⼚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ⼚ᘀ⼚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ऄỦ ἂ ἤ Ὤ ὲ ᾘ ᾚ ₠ ₢ ₪ € ⃬ ⃮ ⅜ ⅞ Ⅶ Ⅸ ⋢ ⏠ ⏦ ⏪ ⏬ ◺ ☖ ♀ ♂ ⛔ ✌ ✖ ✘ ✬ 뷝뷝뷝鷝鷝鷝鷝鷝鷝竝窽穚窝 ᘾ摨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ恨ᘀ恨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ쭨땑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ䍨漷䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ䍨漷ᘀ䍨漷䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ ⋢ ⏪ ⡒ ⨤ ㋔ 㧂 㩘 㰨 㺸 䖼 䛜 䨲 䮪 䰶 䳊 䵆 ䷘ ð Ò 툀 á 쌀 Ã ´ á ꔀ 阀 阀 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧呂Á ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧捛 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧矋 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧儼ã ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧㥤î ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧Ᏽë ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧⭠íᄀ✬ ✰ ➂ ➄ ⡐ ⡒ ⥬ ⥺ ⦄ ⧖ ⨢ ⨤ 뫝뫝瞚㝗㝗w ᘾ䍨漷䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ摨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ恨ᘀ摨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ恨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ䍨漷ᘀ䍨漷䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ䍨漷ᘀ쭨땑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈⨤ ⩔ ⩤ ⩦ ⩨ ⪀ ⪬ ⪾ ⫰ ⫴ ⬔ ⬬ ⬾ ⯬ ⯲ Ⲁ Ⲝ ⸬ 뫝몚竝몚窚㝗㝗穗驗穗 ᘾ㉨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄᘀ摨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ摨䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ쭨땑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄᘀ쭨땑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᐄ ㇲ ㈜ ㋒ ㋔ ㎘ ㎢ 㒒 㒜 㒬 㒴 㠎 㠔 㥚 㥢 㦂 뷝髝坷坷坷坷㝷w ᘾᥨ房䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ♨⍑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ♨⍑ᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ⼚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ⼚ᘀ⼚䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈༄㦂 㧀 㧂 㨾 㩖 㩘 㪞 㫞 뷠窚㝚 ᘾ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ孨顣ᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ畨㈌㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ㱨ᘀ퍨n㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ畨㈌ᘀ♨⍑䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈܄㫞 㫠 㮌 㯒 㰤 㰦 㱔 㲦 㳺 㵾 㶈 㶜 㷞 㷴 㷼 㺞 㺢 㺴 㺶 㺸 㺺 䃢 뫝몚粚籛籛籛籛籛㩛籛[ ᕁ쭨շᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ孨顣ᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘾ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ孨顣ᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ쭨շᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J尀脈䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᔄ䃢 䃬 䄆 䅆 䆲 䇤 䇨 䇪 䊚 䋘 䋚 䋜 䏒 䏔 䔺 䕄 䕼 䖼 샡샡샡샡샡膢쁣샡E ᘻ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ㩨猒䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ孨顣ᘀ陨坂䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ陨坂䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ孨顣ᘀ쭨շ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ紺䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᄀ䖼 䘞 䘶 䘾 䙀 䚜 䛚 䛜 䛨 䨰 䨲 뷞붟鿞撁⅁ ᘾ孨顣㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ紺ᘀ孨顣㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᔹ孨顣ᘀ孨顣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ孨顣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ孨顣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъ䨲 䪊 䪖 䪪 䫮 䫲 䬔 䬞 䮈 䮦 䮨 䮪 뷞掁齂! ᕁ摨酠ᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъᘻ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъ䮪 䮬 丼 乨 亐 伔 佐 佒 佞 侄 侈 琀 瑺 璸 疈 믞髞糞籞 唃Ĉᘻ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъᘻ㩨猒䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ㩨猒䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъᕁᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕄ䉨셔ᘀ䉨셔㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Ѐ䡮Ѐ쩱
猀H琄⩈ᕁ䉨셔ᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁H渄H焄 ÿ 䡳Ѐ䡴Ъ䷘ 丼 疊 砠 簼 罈 腐 膪 菀 蓰 讨 躞 陀 韰 饌 騼 ð Ò 툀 Ò 쌀 Ã 됀 Ò 툀 ¥ ꔀ 蜀 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧ⳬo ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧䔽Ù ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧䪚§ ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧缣y ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧儼ã ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧Ᏽë ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧捛 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧呂Áༀc giá trị đích thực mà bản thân di tích còn bảo lưu được đó là các giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, lịch sử tồn tại phát triển của một làng nghề - một nghề truyền thống của người dân Châu Khê.
Khác với các ngôi đình ở làng quê thường rộng rãi và vuông vắn, đình Kim Ngân mang đặc trưng kiến trúc trong khu phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, đó là chiều ngang không rộng, mà sâu vào bên trong. Đình còn lưu nhiều những họa tiết chạm khắc tinh xảo do bàn tay khéo léo của những người thợ mộc, thợ nề, thợ kim hoàn tạo nên.
Nhìn về bên trái: đây là nghi môn, tức cổng tam quan của ngôi đình: Nằm ở vị trí sát với hè đường của phố Hàng Bạc và được bố trí xây dựng hết toàn bộ phần mặt tiền của ngôi đình, Nghi môn được kiến trúc theo kiểu cột đồng trụ xây bằng gạch với kiểu dáng, cấu trúc tương tự nhau, để tạo sự phân cách giữa cổng chính và cổng phụ. Hai cột đồng trụ trong sát cửa chính được làm thấp hơn hai cột đồng trụ ngoài. Đỉnh trên cùng của cột được đắp hình búp sen, dưới là mui luyện, tiếp đến là lồng đèn trang trí chữ Thọ và thân trụ.
Trên cửa chính và phụ của Nghi môn đều làm mái và lợp ngói mũi hài. Riêng nghi môn chính, mái được làm cao hơn so với mái cổng phụ và kiến trúc theo kiểu một nếp nhà 3 gian. Mái lợp ngói ta, hai đầu của bờ nóc đắp hai hình văn triện theo kiểu rồng cuốn chầu vào chính giữa. 4 chữ đại tự đắp nổi phía trên cửa chính của nghi môn là “Du cửu vô cương” – có thể tạm dịch là: Bền vững dài lâu.
Từ nghi môn qua một sân rộng nơi chúng ta đang đứng là vào tới tòa đại đình, Các bậc tam cấp và ngũ cấp được bó vỉa bằng đá xanh Thanh Hoá, trên trục chính đạo có lát đá nhám. Sân đình được làm thấp hơn nền nghi môn 5 bậc đá và thấp hơn khu tiền tế 3 bậc đá.
Phần 4: Giới thiệu kiến trúc bên trong Đình
Trong kiến trúc đình Kim Ngân vật liệu gỗ được sử dụng làm hệ khung chịu lực chính. Hệ khung gỗ là thành phần kết cấu cơ bản nhất hình thành qui mô, không gian, vóc dáng của kiến trúc, đồng thời cũng thể hiện rõ nét nhất đặc trưng của kiến trúc gỗ truyền thống Việt.
Kiến trúc bên trong đình được phân cách thành 3 gian, có 4 bộ vì kèo, hệ thống cột để đỡ bộ khung mái là những thân gỗ lùn, đường kính cột cái là 0,4m.
Riêng gian giữa đại đình được trang trí khá cầu kỳ, có 4 chiếc đầu dư. Đầu dư thể hiện kiểu đầu rồng, miệng hơi há ngậm viên ngọc, râu tóc chẩy dài, chạy về phía sau, đường nét chạm dứt khoát, khỏe ( đây là phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, song vẫn còn phảng phất nghệ thuật của thời hậu Lê). Khác với kiến trúc của một số ngôi đình mà chúng ta vẫn thường gặp, ở đây gian giữa của tòa đại đình được gắn hệ thống cửa võng (gồm 4 bức), bố trí thành tầng tầng, lớp lớp từ ngoài vào trong, tạo cảm giác như ở chốn thâm cung trang nghiêm và lộng lẫy. Việc kết hợp điêu khắc với kiến trúc là thủ pháp hết sức phổ biến từ cổ xưa đến nay. Tuy nhiên, nét đặc trưng của kiến trúc đình Kim Ngân là các chạm khắc được thực hiện phổ biến trên chính các cấu kiện của hệ khung kết cấu chịu lực. Các cấu kiện gỗ do đó đảm nhận cả chức năng kết cấu và chức năng trang trí.
Tòa ống muống với 3 gian, nối tòa đại đình với nhà hậu cung. Trên bệ thờ cao nhất ở trong cùng là nơi đặt bộ ngai của đức thành hoàng làng – là cụ Tổ nghề. Trước ngai đặt bát hương và đôi cây đèn. Hai góc phía ngoài của tòa ống muống đặt hai pho tượng (có chiều cao 1,9m) được thể hiện “tả văn quan, hữu võ tướng”, mặc áo theo kiểu áo vị quan hầu, tay cầm thanh đao đứng chầu.
Tiếp đến là một ban thờ đặt một bộ ngai nhỏ hơn là ngai thờ của vị quan cận thần, cũng có bát hương, cây đèn cùng với đôi hạc thờ. Theo quan niệm của người Việt, Rùa là loài bò sát lưỡng cư, có tuổi thọ rất cao thường đươc gọi là “Cụ” rùa. Rùa có thân hình chắc chắn cộng với khả năng sống lâu cho nên được ví như biểu tượng của sự trường tồn. Bên cạnh đó, Rùa là loài vật ăn ít, có khả năng nhịn đói tốt nên được coi là thanh cao, thoát tục. Còn Hạc thì được xem như một loài chim quý, hình ảnh Hạc thường xuất hiện bên các vị thần tiên, Hạc cũng là loài vật tượng trưng cho sự trường thọ. Khi đem kết hợp hai hình ảnh Rùa đội Hạc sẽ trở thành một biểu tượng “Thọ đội Thọ”, biểu thị cho khát vọng trường tồn, biểu tượng của may mắn. Mặt khác, Rùa là loài vật sống ở dưới đất, hạc là loài vật sống ở trên cao, khi hạc đứng trên lưng rùa thành một cặp thì hình ảnh đó thể hiện sự hài hòa, gắn kết giữa trời đất, giữa hai thái cực âm dương, tức sự tồn tại vĩnh hằng của trời đất
Dọc hai bên ban thờ là bộ bát bửu (bát bảo), tức là 8 đồ thờ quý. Bộ bát bửu ở nơi thờ tự tín ngưỡng dân gian như đình, đền, miếu thường có: mâu, đao, thương, kích, chấp, chùy, trượng, mác; biểu tượng cho sức mạnh.
- Đao (còn gọi là long đao) là loại binh khí mà phần đầu có chức năng sát thương được gia công bằng kim loại, có độ dày thích hợp, sắc, cong về một phía, bản rộng, mũi nhọn.
- Mác là loại binh khí có phần đầu được gia công bằng sắt, hình thoi, có cạnh, đầu nhọn, dùng để sát thương đối phương.
- Chấp là loại binh khí mà ở phần đầu có tiết diện nhỏ, hình vuông, hai bên có hai mũi phụ nhọn hai đầu.
- Kích có hình dáng giống như chấp, nhưng chỉ có một mũi phụ ngắn.
- Chùy là loại binh khí mà phần sát thương là một quả cầu bằng kim loại và có gắn thêm một mũi nhọn ở phía trên.
- Mâu (còn gọi là bát xà mâu) là loại binh khí mà phần sát thương được gia công bằng sắt, có hình dáng ngoằn ngoèo như con rắn đang bò, đầu nhọn.
Tiếp theo tòa ống muống là Tòa hậu cung: đây là một nếp nhà 1 gian 2 dĩ, nằm song song với tòa đại đình.
Đình Kim Ngân với sự hiện diện, trường tồn của nó trên mảnh đất của phố Hàng Bạc là nguồn tư liệu quý, một bằng cứ để giúp cho việc nghiên cứu về sự hình thành một đường phố, một phố nghề, một làng nghề ở tại Kinh thành Thăng Long. vừa rồi đoàn đã được tận mắt khám phá vẻ đẹp và giá trị của một công trình tín ngưỡng tiêu biểu trong khu phố cổ Hà Nội. Tuy đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, sự biến thiên của thời gian khiến kiến trúc cùng cảnh quan nơi đây có nhiều thay đổi, các di vật đồ thờ cũng bị thất lạc nhiều; tuy nhiên, hiện nay trong điểm di tích còn bảo lưu được một số di vật quý.
Phần 5: Giới thiệu quá trình bảo tồn trùng tu và Kết
Trước đây, đình Kim Ngân có 27 hộ gia đình sinh sống với 82 nhân khẩu. Do các yếu tố tự nhiên và xã họi tác động, các hạng mục kiến trúc của đình Kim Ngân bị hư hỏng nặng. Ai từng có dịp ghé qua đình vào những năm trước 2009 nơi đây sẽ thấy những căn nhà nhỏ san sát, chật chội, ánh sáng lờ mờ, cái thò cái thụt... vừa lộn xộn, lại nhếch nhác và tạm bợ. Điều này đã khiến không gian Đình Kim Ngân bị thu hẹp hết mức có thể.
Để có được hình ảnh khang trang như hiện tại, từ năm 2004, Ban quản lý phố cổ Hà Nội đã phối hợp với các chuyên gia Việt Nam và CH Pháp nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu, đánh giá thực trạng cũng như xác định các giá trị văn hóa về kiến trúc, tín ngưỡng… của ngôi đình để tìm ra phương án trùng tu, phục hồi nguyên trạng, đảm bảo đạt hiệu quả cao nhất. Thực tế ngôi đình đã bị hư hỏng nặng nên rất khó khăn trong công tác trùng tu.
Dự án trùng tu tôn tạo di tích Đình Kim Ngân có thể nói là một dự án rất thành công trong công tác giãn dân phố cổ. Năm 2009, UBND quận Hoàn Kiếm đã hoàn tất việc di dời các hộ dân tới định cư ở nơi ở mới với diện tích rộng hơn, điều kiện sống tốt hơn.
Với những giá trị quý báu, đình Kim Ngân được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia vào tháng 10/2012. Công tác bảo tồn công trình di tích của Ban Quản lý phố cổ Hà Nội cũng được Bộ Văn hóa đánh giá rất cao bởi đã giữ được nhiều yếu tố gốc, ví dụ như hệ thống cửa võng, hoặc các cột đình và các họa tiết trang trí cổ cùng hệ thống các di vật gỗ chạm của đình rất phong phú như: hoành phi, Long ngai, Thần vị, hương án,... Việc bảo lưu được một số mảng chạm điển hình mang đặc trưng của phường nghề chạm khắc kim hoàn truyền thống, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu kiến trúc dân gian ở thủ đô Hà Nội. Đặc biệt, Đình Kim Ngân hiện còn bảo lưu được hệ thống bia đá gồm (08 tấm) có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học và nghệ thuật to lớn.
Kể từ khi trùng tu đến nay, đình Kim Ngân không chỉ là nơi thờ tổ nghề mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống, đã tổ chức rất nhiều HĐVH, đặc biệt là Lễ hội nghề kim hoàn tại đây được tổ chức 5 năm một lần. Ngôi đình được rất nhiều đoàn khách, cũng như sinh viên trong và ngoài nước tới tìm hiểu về các giá trị di sản. Ban cũng đã đón nhiều đoàn khách quốc tế tại đây, gần đây nhất, tổng thống Pháp François Hollande cũng đã dành thời gian tới thăm ngôi đình cổ kính này.
Đình Kim Ngân cũng là nơi quy tụ và giới thiệu các giá trị văn hóa nghệ thuật của các nghệ sĩ, các sản phẩm nghề truyền thống của các nghệ nhân. Cũng chính tại ngôi đình này vào các tối thứ 4,6 & CN có hoạt động biểu diễn nghệ thuật Ca Trù; Ca Trù là lối hát thơ đặc biệt của người Việt. Nghệ thuật này xuất hiện cách đây khoảng trên 1000 năm và được dùng trong các dịp lễ ở đình, đền, dinh thự, hoặc cung đình. Năm 2009, Ca Trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp. Nhằm góp phần bảo tồn loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
PAGE \* MERGEFORMAT 4
疈 疊 痎 痜 眠 眪 砠 砢 砰 硄 硲 稀 稂 稊 뷞붟북뵣䖁ⒽE ᕁ煨ⅎᘀ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ紺䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ䉨셔ᘀ䉨셔䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъഀ稊 穌 穎 筮 签 篼 簠 縴 縶 繜 繠 纒 샞삟膟沟齋- ᘻ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ坨㩐ᘀ坨㩐䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔨ坨㩐ᘀ坨㩐䌀伀J倀J儀J愀洀ै猄ैᘻ坨㩐䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъ纒 绊 绐 罄 罆 罈 罸 羂 羰 샞ꋞ掄⑂ ᘻ罨汋䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ罨汋ᘀ罨汋䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁﵨᘀ⍨祿䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъࠀ羰 翞 聜 聠 肈 肎 肤 胸 胺 脄 脈 腊 腎 뷞붟붟恾恾⑂ ᘻ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ罨汋䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ罨汋ᘀ罨汋䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ罨汋䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъఀ腎 腐 腪 膨 膪 菀 葈 葌 虾 믞箛㥚㤛 ᘻ煨ⅎ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ⍨祿ᘀ⍨祿䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘾ㱨㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘾ畨㈌㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ㱨ᘀ㱨㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕁ㱨ᘀ㱨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъࠀ虾 蚎 褸 褺 认 讦 贴 跦 跨 샡膢쁣⅂ ᕁ嵨ﱳᘀ嵨ﱳ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ屨潣ᘀ屨潣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁﵨᘀﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъࠀ跨 踚 踜 踞 踠 躜 躞 軀 輾 轂 轒 볝벞彽‾弾 ᘻ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ屨潣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ屨潣ᘀ屨潣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ嵨ﱳ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ嵨ﱳᘀ嵨ﱳ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕄ嵨ﱳᘀ嵨ﱳ㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈轒 轸 辠 辤 辦 酤 酦 鈒 鈔 銔 鋒 錞 錤 錸 鍂 鑘 샞삟斄斄⹈쁈쀮H ᘳ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᔹ驨Ꝋᘀ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᔽ᭨餑ᘀ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔵ᭨餑ᘀ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъༀ鑘 鑚 鑪 鑬 閲 闰 闼 阾 陀 隂 짦즫玑쥒1 ᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁﵨᘀﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘳﵨ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᘻ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔹ驨Ꝋᘀ驨Ꝋ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᔲ驨Ꝋᘀ驨Ꝋ䈀༪䩃䩞䩡䡦Ā桰晦f쩱
ऀ隂 雀 雂 雞 雤 霜 霢 靺 鞸 鞼 韪 韮 韰 샡薣薣殣仡ⷡ ᕁ漬ᘀ㵨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔹ漬ᘀ漬䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᘳ漬䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᘻ屨潣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔹ屨潣ᘀ屨潣䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ漬䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъఀ韰 饊 饌 騺 騼 鬌 鬎 鮒 鮔 鱴 鱶 鶘 鶚 鹰 ꁀ ꁂ ꋰ 뻡뻡뻡뻡뻡鯡奺稻 ᘻ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕄﵨᘀ㵨㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄﵨᘀ漬㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᔼﵨᘀ㵨㘀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡮Ъ쩱
琀⩈င騼 鬎 鮔 鱶 鶚 鹰 ꌰ ꎜ ꛮ ꩈ 걂 눮 뗪 몔 몘 몚 몞 몠 몤 몦 몪 몬 ð ð á 툀 Ò Ã á á 뤀 · 뤀 · 뤀 · 뤀 · Ā ऀ 搒ðꐔ 摧ヅ ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧滅 ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧儼ã ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧Ᏽë ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧ⳬoᔀꋰ ꌮ ꌰ ꎚ ꎜ ꐢ ꐪ ꓴ ꛬ ꛮ 쏡肠썟彁# ᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ쩨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘾ㱨㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᕄ㱨ᘀ㱨㔀脈䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡦Ā䡭Љ䡮Ъ쩱
猀ै琄⩈ᘻ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъऀꛮ Ꝍ ꩄ ꩆ ꩈ ꫮ ꬮ ꬰ ꮲ ꮺ 걖 건 괶 귈 껢 껤 껮 샡샡膟삟鿡鿡握㱎 ᘢ䌀伀J倀J儀J愀ᑊ洀ै猄ैᔨᘀ䌀伀J倀J儀J愀ᑊ洀ै猄ैᘻ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ앨鱮䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ票湠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъက껮 꼰 꽰 꾲 꾴 꾶 넠 넢 넶 뇴 눬 뉢 뉤 늀 샞ꋞ蓀董⑂B ᘻ票湠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ摨酠ᘀ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ摨酠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъഀ늀 댖 댬 댴 덎 덦 뎐 뎠 돔 돖 땘 땺 뗨 뗪 뗬 샡삢膢膢探捆ꈥᕁ恨ꡦᘀ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᔹ恨ꡦᘀ恨ꡦ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H渁⩈焄 ÿ 䡴Ъᘻ恨ꡦ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ票湠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъ뗬 똄 똎 또 뛊 뜈 뜌 랐 럈 럊 쏡膢썣⑂B ᘻ㹨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁ虨፲ᘀ虨፲䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ票湠䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᕁᘀ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ癨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ恨ꡦ䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъऀ럊 룜 뤢 맺 메 몒 몔 몖 몚 몜 몠 몢 몦 모 몬 몮 뫜 뫞 뫠 뫢 뫦 뫨 뫪 뫬 쏡쏡蒥硼硼硼硼汰捰汕硑 ᘆ뙨 ̚j ᘀ앨頰唀Ĉ䡭Ѐ䡮Ѐࡵᘑ畨㈌洀H渄H甄Ĉᘆ앨頰 ̏j ᘀ앨頰唀Ĉᘆꍨ፸ ̏j ᘀꍨ፸唀Ĉᕁ㱨ᘀ㱨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ畨㈌䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ㹨䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᘻ虨፲䌀ᩊ伀J倀J儀J愀ᩊ昀H洁ै渄⩈焄 ÿ 䡳Љ䡴Ъᜀ몬 뫤 뫦 뫨 뫪 뫬 ú ö ç ␃ሃ灤þጀ碤᐀¤愀̤摧ᏵëĀ ĀЀ␃愁ĤԀ2週Ũ瀺䄦\뀟⺂뀠䇆뀡͓뀢͓連͓逤Ĝ뀥 뀗˅뀘}逌˄ Ѫċ ض ض ض ض ض ض ض ض ض ɶ ɶ ɶ ɶ ɶ ɶ ɶ ɶ ɶ ض ض ض ض ض ض Ⱦ ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ¨ ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ¸ ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض Ũ ň ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ض ΰ ض ز π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А ز Ȩ ǘ Ǩ Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ π ϐ Ϡ ϰ Ѐ А Р а р ѐ Ѡ Ѱ Ҁ Ґ ĸ Ř Ǹ Ȉ Ș ɖ ɾ 䩏䩐䩑䡟Ё䡭Љ䡮Љ䡳Љ䡴Љ J怀Jဌ Normal 搒ĔꐔÈ䩃䡟Ё䩡䡭Ъ䡳Ъ䡴Љ D⁁¡Dఌ Default Paragraph Font Ri³Rഌ ذTable Normal 㐀ۖĀ̊l혴ԁ愀϶ (Á(ഀ ذNo List BñB 禓± apple-converted-space *恗ā*ဌ 檴ŠStrong ࠵岁脈d䁞Ēdࠌ ⚕_ذNormal (Web) 搒ðꐓdꐔd封Ĥ䩃䩏 䩐 䩑 䩡䡭Љ䡳Љ4Ģ4ఌヅذHeader
옍䠂递Ĥ >濾ı>ヅذHeader Char 䩃䩡䡭Ъ䡳Ъ4䀠ł4ఌヅذFooter
옍䠂递Ĥ >濾ő>ヅذFooter Char 䩃䩡䡭Ъ䡳ЪR䂙ŢRഌ嵇ذBalloon Text 搒ðꐔ 䩃䩏䩑䩞䩡R濾űRČ嵇ذBalloon Text Char 䩃䩏䩑䩞䩡䡴Љ䭐Ѓ !뼏ÿ Ȝ 䍛湯整瑮呟灹獥⹝浸걬쮑썎ူﱈ䨭늜ࡀ잂잎粢죀⒙줖님喧퉌䉔₨氖㮞狣᾽딇飃Ꞝ꽊䋲ᯫ嵇伷귙襖᪁㰘ꕡ頏뫴벾㜨肇襉劚箥烦䱧㶲邎ὲ꒐㮝ȸ㗋♶ﶀ痍醉䏉똃ᶰ㵘飹뒐㾺丶䪬ࡃ뎃鋀令쥆䈖쨮➹⮤ꆉ姍哂᧹敞턵꠵⃞௲ኌ냃褌콟ⴙ뿦鸻훛汙늎粎帶仌怔㿵Ꮸ쳓孿ɿ 䭐Ѓ !횥À Ķ 牟汥⽳爮汥葳쾏썪ర붅톃兽쏒┘⽶邥⽃綣缨≨俛ۇ묊萈꧷︽议ᘠꪚ쌆䏢쬿㵶羿즂ꒅ▧嬈灸ꎆ徵傼ꏑ촼ᬱ䢥ザን蠏俙劼䊮텤䫒戴缤醧影ῗ麘䰶刖㟗깠ꢏ쎳찰侞翁ⲯ䗥渄鐷楌拤ꢡ뵓ꢐꩥỔ뗐隸Ͽ倀͋ᐄࠀ ℀欀陹茖 言 ᰀ 琀敨敭琯敨敭琯敨敭慍慮敧浸౬䷌쌊ဠꅽ遷㟙뭣䔨뉢껋䌀읁튠菣츷ᓟ鯕ോⱙޜ訍쵥蠮ⱼᮧ᱈ⳅᗇᡸ듉ᎍ䧟珈絑픣薐떭⃝뗖픫륞樤謽均폨⧷䗢⯫ਦ㠂ǽ 䭐Ѓ !⥃ڨ ᮤ 桴浥⽥桴浥⽥桴浥ㅥ砮汭姬潏㛛뼔⁷潴❣᩶甇鮱䴭쐛蝮椞隉僘䂢䧒᭽ƀ뫃蝡蝭孡ᚁꗘ㓻㫙ᵬ꿐䞰鉒壅鉞궊裸ﯣỿꤟ쟮ᴌℒ伩廚狽䏍䁹낓괯䡹鰪頄蓱붴鄩뗞믟힊䑕艢絠휢钋흊隗ྤ壃䤩湠䗌ᖌ誼⥰泆륩孖詝䴱鐼ᣠ輚侩僐父㷢꼆銉쁺执䦠朓솅܆赵厐旙ᴂ홢胶쁏蚏뻤ჲ勃䓁ꯛ龙뒷畱꼉譧媘뚰꺴繯뫙䅬끰硬炊ご괛嬫紅怃Ṫ뫵窽콁뀀華嚦㊖䛍굿짞险鹱띶곖尵襼쫾천亭펧敬墲ڢὤ猛뗸櫚獣쇙逛㟅캍띦ﷰ괫蛕㞋袠ᶭ푧젋뎘䫭ퟀᥪ虼梂ꈨ덋ⵄ떊ꋣ損텘꤄䩩⢇⑸혨섺ᦥ맋촡䤋큟땔ㄙ離꿷㾞읅鸏㼝㼇䉚鱭⽕ﶿ쿬ῇ㾣纞៑磕왙⟃ﲿ秼ဵ柒츦⾋ﲟ诉㺯﷽䞻腍敇郸䓆鮢ࣤᐘ嘳╱⌧빱쌕팈諲Ⓧ㢔髁Ջ黽췴昩瞙㤜쐺ĝꏥ砊牽ᇏၸ覉ᖢ瞜칲尺婔䝡⫳禙䤸櫂拦왒揭塼믅ᎋ뿇䦽甊༳䝋滱᱄丘ด䉉툔ﱳ邀勮靵苺㹋䔮䰝䴫ꐲ✣暚뚋౩饾︌汶箳甇ꬸ竒䢺ૈ⫌ᾄ鸺ᰨ酗閘縍ꬃ䪨쇈履⩏瓰ᡈ뵇䢀땙雦紀之쇟념쮾놦ᒋẊ텔膼⼹뜣䇸숷婱ᶅⓐ挪逿ဇᢢ燭Օ虮矨ϰᙎ﮺┎뮎꽏뜆㒈ဋ㌽ᔑ벾롎뼓⦃挛䩢ᐍꝵ읖老슻⣍湔ૢ鐷៊㽟邮添낛啻쳥觶뵂眈㲲륷忛랝⓰⏙႐寳믔ﳢ㢮サ⢼⾟Ⓘᐰ싱箮᥌ꠛ〈ꐷ뱩䄽؟㫵씤Ⱙ村〲灰삡൦尒䑽㑕炈䴊䓓饂ຑ䨥蒹ꋃ긙궤탱⯸푻衃Ჭꬒṝ㴕龜ਵ䘲킪栜䙳騫姀궙쥜芈꽮곃薮㌺몷촑䔔宇늡넶鐹즃픋끠⚰㔴娈뀡⫲列欵䙠洂옭ᜋ⋩撀툾콺ꣻ鱮잔鳊娢ᬏ兀磠햊驚ᯬ㭰鎋ଚ篞⼓ᇥ倒餻Ⲏ✩䬧凐毛霵ẛ燲烆虎㣇꼅扇숖鍥蒯鍓擙쳹궛ㅜष烪懵㻭낧ݓ⅒ᛕ醖锳 㑋⬧狿찓兺吊ꍔ䦳늱섆꿰ʼn瑶䭝揆ꯢ뎲⍋盚㗶ꔫꉼᢈ셄ᨑ覱쟘绠ꨝ侠╀睜誘徠滠孎䳛얹䬹颍챱࣒Ꝗ鹨ᛉ੮⅒禃褫먇쩕鑮뼻☪镈ᡲ쿿텔৻㻜ҬϚ尾璌뒦⸽쑔ડᆥﯵᨂ匇※↦僤럿朹顩蚴ꑃሡᔣ䈉ꃶ餬㯨墅ⲻ陉㈑唑園嚦ᇬꡬ㷛䄔鮨鉪ƕ㮃缙篮䆖傣㤷糥⩳녙㮧鬟ꃌ宔䶇鍃뿛널ཨ뭦嶪陯篧奯㴑欱᪳噹대囒쫐ﻒ䔵歖혫욜췋㡜욼堰䐴℡߽㿶簪뽦甍뚡ꅸ䆉䃘彔趲툇툅踎熠莲頶⤴疬囒㟋௫瓮븋谧▭謻쾿㦢뤹酸컆ⶎ㔴詤탂㼸ᣈ飇擏籙ུ봜☌䥌䰓鷰恊ꇨ☇ⷹ덇/ 䭐Ѓ !턍龐¶ ě ' 桴浥⽥桴浥⽥牟汥⽳桴浥䵥湡条牥砮汭爮汥葳䶏숊ᐰ瞂漈퍯Ⴚ⚑裝귐ϔവ㼶儤긍ࠬ蜮빡榙鞻증挓栱᪪㨈闩驱淁䂎ᙒ襎㯙끤艠澎朕䮑䴨␦⡒ㄮ犘✎鍊킜咊胹㢮辣ꌢ䆦믈䣐痷ꁽ鯱簁Ⓟ抽笐Õ阙驐돿㣽褚⽧ᘟ﹝䅑օꈨ쳆⏠ꪛь寊몺 Ͽ倀ŋⴂ᐀ࠀ ℀ ᰀጀ 嬀潃瑮湥彴祔数嵳砮汭䭐ȁ- !횥À Ķ İ 牟汥⽳爮汥偳ŋⴂ᐀ࠀ ℀欀陹茖 言 ᰀ ᤀ琀敨敭琯敨敭琯敨敭慍慮敧浸偬ŋⴂ᐀ࠀ ℀ 䏝꠩ꐀᘀ 혀琀敨敭琯敨敭琯敨敭⸱浸偬ŋⴂ᐀ࠀ ℀ഀ郑뚟 ᬀ✀ 눀 琀敨敭琯敨敭弯敲獬琯敨敭慍慮敧浸敲獬䭐 ŝ ભ 㼼浸敶獲潩㵮ㄢ〮•湥潣楤杮∽呕ⵆ∸猠慴摮污湯㵥礢獥㼢ാ㰊㩡汣䵲灡砠汭獮愺∽瑨灴⼺猯档浥獡漮数确汭潦浲瑡牯⽧牤睡湩浧⽬〲㘰洯楡≮戠ㅧ∽瑬∱琠ㅸ∽此∱戠㉧∽瑬∲琠㉸∽此∲愠捣湥ㅴ∽捡散瑮∱愠捣湥㉴∽捡散瑮∲愠捣湥㍴∽捡散瑮∳愠捣湥㑴∽捡散瑮∴愠捣湥㕴∽捡散瑮∵愠捣湥㙴∽捡散瑮∶栠楬歮∽汨湩≫映汯汈湩㵫昢汯汈湩≫㸯 䜺 * * * - ࠀ ઘ ዞ ០ ᧐ Ủ ✬ ⨤ 㦂 㫞 䃢 䖼 䨲 䮪 疈 稊 纒 羰 腎 虾 跨 轒 鑘 隂 韰 ꋰ ꛮ 껮 늀 뗬 럊 뫬 ( * + , - . 0 1 2 3 4 5 6 7 8 ^ _ ` a b c d e f g h j k l m n o ࠀ ⋢ ䷘ 騼 몬 뫬 ) / 9 i p $ &